Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015


MỘT SỐ CÁCH HỌC CHỮ KANJI TRONG TIẾNG NHẬT
1. Về cách học chữ Kanji
Thực ra, đối với những người đang theo học tiếng Nhật tại Việt Nam thì, trừ những người đã và đang học tiếng Trung Quốc, hoặc  một số người có năng khiếu bẩm sinh về ngôn ngữ ra, số người khác đều không khỏi “ngán ngẩm” mỗi khi nhìn thấy loại chữ tượng hình này. Đặc biệt hiện nay, nhờ thành tựu của khoa học kĩ thuật nên khi viết bài văn hay tra từ mọi người đều dựa vào máy tính và từ điển điện tử. Điều này khiến cho việc nhớ chữ Kanji có vẻ càng khó khăn hơn. Do vậy, để nhớ được nhiều chữ Kanji theo tôi người học nên thực hiện những biện pháp sau:
Thứ nhất: là phải viết nhiều. Khác với người học các ngôn ngữ khác, những người học tiếng Nhật ngoài việc cần làm cuốn sổ từ để học từ ra, họ còn phải nhớ cả chữ Kanji. Nếu không những chữ Kanji đã học dễ bị trở thành “chữ chết”, có nghĩa là nếu nhìn vào chữ đã học, người học biết được cách đọc, nghĩa của chữ đó nhưng lại không thể viết ra nếu không dựa vào từ điển. Điều này có lẽ chẳng khác gì người không biết chữ. Vì vậy, để có thể nhớ lâu, người học chỉ còn cách viết đi viết lại thật nhiều và cố gắng tránh ỷ vào từ điển điện tử. Ngay cả khi viết văn hoặc viết thư bằng tiếng Nhật thì người học cũng nên bỏ thêm thời gian để viết nháp bằng tay trước khi đánh trên máy tính vì tính thẩm mĩ của bài văn hay bức thư đó. Và, các giáo viên giảng dạy tiếng Nhật cũng nên yêu cầu học sinh nộp các bài tập, bài văn v.v…được viết bằng tay.
Thứ hai là không viết và học từng chữ đơn lẻ. Ở giai đoạn mới bắt đầu học, do lượng chữ Kanji còn ít nên người học chỉ có học từng chữ. Nhưng khi đã học được lượng chữ Kanji tương đối (khoảng 2~3 trăm chữ trở lên), người học nên học bằng cách ghép các chữ lại với nhau. Chẳng hạn, khi học chữ “ 校 ” ta nên tìm những chữ Kanji có thể ghép được với chữ này để tạo thành một từ mới để học. Ví dụ có thể ghép thành các từ như: 学校 (trường học);高校 (trường trung học phổ thông);校長 (Hiệu trưởng);校則 (nội qui nhà trường);校庭 (sân trường) v.v… Hoặc chữ “安”ta sẽ có được những từ như: 不安(không yên tâm) 安易(dễ dàng) 安全(an toàn) 安静(yên tĩnh) v.v…
Thứ ba là học theo cách đọc On-Kun của chữ Kanji và kết hợp với cách thứ hai. Mặc dù mượn chữ Kanji của Trung Quốc làm văn tự của nước mình nhưng trong quá trình sử dụng, người Nhật thấy chữ Kanji chưa đủ để diễn tả hết ý của mình nên họ đã tạo ra thêm cách đọc mới cho mỗi chữ Kanji. Vì vậy, thông thường mỗi chữ Kanji trong tiếng Nhật đều có hai cách đọc và được gọi là Onyomi (音読み) được dịch ra tiếng Việt là cách đọc theo âm Hán-Nhật và Kunyomi (訓読み) được dịch là đọc theo âm Nhật. Vì vậy, khi học chữ Kanji ta cũng nên học theo hai cách đọc của nó.
Ví dụ: chữ「明」sẽ tìm thấy cách đọc Onyomi là “Mei” và cách đọc theo Kunyomi là “Akarui”.
Chữ 「暗」có cách đọc tương tự là “An” và “Kurai”.
Chữ 「正」có cách đọc là “Sei”, “Sho” và “Tadashii”..…
Sau đó, dựa vào cách đọc theo Onyomi của mỗi chữ Kanji, người học tìm thêm những chữ Kanji khác để ghép chúng lại với nhau tạo thành một từ mới.
Ví dụ, dựa vào cách đọc Onyomi ta ghép hai chữ 「明」+「暗」lại với nhau sẽ được một từ mới là (明暗 : ánh sáng và bóng tối). Hoặc ghép từ 「決:có cách đọc là “けつ” và “きめる”」 với từ 「定:có cách đọc là “てい” và “さだめる” 」ta sẽ có thêm từ mới là 「決定 (けってい: sự quyết định」v.v…
Ngược lại, khi gặp một từ là danh từ ghép hoặc là danh động từ, sau khi đã nhớ được nghĩa của từ đó ta lại tách từ đó ra làm hai để tìm cách đọc theo Onyomi và Kunyomi của mỗi chữ Kanji.
Ví dụ như một số từ dưới đây:
Từ 「勉強:べんきょう」khi tách ra từng chữ ta có được kết quả như sau: chữ 「勉」sẽ có cách đọc theo Onyomi là 「べん」và 「めん」còn cách đọc Kunyomi là 「つとめる」. Chữ 「強」có cách đọc theo Onyomi là 「きょう」và đọc theo Kunyomi là「つよい: mạnh mẽ, khỏe, bền」và「しいる:cưỡng bức, áp đặt」
Từ「増加」, chữ「増」đọc theo Onyomi là「ぞう」còn đọc theo Kunyomi là「ふえる」「ふやす」「ます」
Trong 3 cách như trên, cách học thứ 3 sẽ mang lại hiệu quả nhất vì đây là cách học mang tính tổng hợp.
2. Cách phân biệt âm đọc ngắn hoặc dài thông qua âm Hán-Việt
2.1. Cách thứ nhất
Như chúng ta đã biết, cũng giống như Nhật Bản, trước đây người Việt Nam cũng sử dụng chữ Hán để làm văn tự của mình và, hiện nay cho dù người Việt đã chuyển sang sử dụng hệ chữ La Tinh song vẫn có trên một nửa số từ vựng được sử dụng theo âm Hán-Việt. Vì đều mượn chữ Kanji nên nếu chú ý, ta sẽ thấy không ít chữ Kanji khi được đọc theo Onyomi (âm Hán-Nhật) của người Nhật nó gần giống với âm Hán-Việt của người Việt cho dù là từ đơn hay từ ghép.
Ví dụ như một số từ sau:
Âm Hán-Việt Âm Hán-Nhật
Ám sát                            An-satsu
Độc lập                             doku ritsu
Quốc gia                         kok-ka
Vĩ đại                             I-đai
Do đó, nếu thuộc âm Hán-Việt, người học có thể dựa vào đó để suy ra cách đọc chữ Kanji đó theo cách đọc Onyomi của người Nhật trong những lúc không có từ điển bên cạnh. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn  nữa là, nếu người học tiếng Nhật thuộc được âm Hán-Việt của mỗi chữ Kanji thì ở mức độ nào đó sẽ tránh được phát âm sai hoặc chọn sai từ khi tham gia các kì thi năng lực tiếng Nhật.
Ví dụ, từ 「主人」phát âm là “shujin” nghĩa là “chồng tôi”, nhưng nếu phát âm thêm một âm tiết “shuujin”thì sẽ trở thành một từ khác nghĩa hoàn toàn (tù nhân). Ngược lại, những từ có trường âm nhưng nếu phát âm thành ấm ngắn thì nghĩa của từ đó cũng khác đi. Ví dụ từ “喪失”nếu đọc đúng “sooshitsu” thì có nghĩa là “mất mát, thiệt hại” nhưng nếu đọc thành âm ngắn “soshitsu” thì lại chuyển thành  nghĩa “tố chất” v.v…
Dưới đây là cách đơn giản nhất để tìm ra chữ Kanji có âm đọc theo âm dài hay âm ngắn.
Nếu những chữ Kanji có âm Hán-Việt mà đằng sau các phụ âm đơn hoặc phụ âm kép có hai âm tiết trở lên thì âm On trong tiếng Nhật sẽ đọc theo âm dài còn nếu chỉ có một âm tiết sẽ có âm ngắn. Ví dụ như một số từ sau:


Đọc theo âm dàiĐọc theo âm ngắn
Chữ KanjiÂm Hán-ViệtOnyomiChữ KanjiÂm Hán-ViệtOnyomi
道Đạoどう努Nỗど
動Độngどう怒Nộど
堂Đườngどう土Thổど
層Tầngそう楚Sởそ
総Tổngそう租Tôそ
相Tươngそう祖Tổそ
報Báoほう補Bổほ
方Phươngほう歩Bộほ
法Phápほう舗Phổほ
省Tỉnhしょう諸Chưしょ
章Chươngしょう所Sởしょ
少Thiếuしょう書Thưしょ
賞Thưởngしょう初Sơしょ
尿Niệuにょう如Nhưにょ
当Đươngとう戸Hộと
党Đảngとう徒Đồと
量Lượngりょう旅Lữりょ
網Mạngもう模Môも


Nhưng dùng theo cách này lại gặp phải vấn đề là, có nhiều trường hợp không tuân theo quy tắc này. Ví dụ, âm Hán-Việt của chữ “注” là “chú”, nếu theo quy tắc trên thì chữ Kanji này phải đọc là “ちゅ”bởi sau chữ “CH” chỉ có một âm tiết “u” nhưng nó lại được đọc theo âm dài là “ちゅう”. Vẫn chưa tìm ra được quy luật chính xác của những trường hợp ngoại lệ này nhưng, theo điều tra của tác giả thì hình như những chữ Kanji có nguyên âm U trong âm Hán-Việt thường không theo quy tắc trên và nhiều nhất là ở hàng “しゅ;しゅう”trong tiếng Nhật. Chẳng hạn với các từ sau:
秀:しゅうTú 秋  しゅう Thu
宙 ちゅうTrụ 柔   にゅう  Nhu
2.2. Cách thứ hai
Đây là cách học thuộc lòng theo từng hàng phụ âm kết hợp với âm Hán-Việt. Đối với cách này, người học phải bỏ ra nhiều thì giờ hơn nhưng khi đã nhớ được thì rất có ích đối với việc học tiếng Nhật. Dưới đây là cách nhớ cách đọc âm ngắn hoặc âm dài được xếp theo 50 âm trong tiếng Nhật. Tuy nhiên xin lưu ý một điều là, cách nhớ này do tác giả nghiên cứu, tìm hiểu trên cuốn “漢和辞典”do nhà xuất bản 三省堂 phát hành năm 1996 và “Bảng tra chữ Hán tự và cách đọc theo âm Hán-Nhật” do Nhà xuất bản TÂN VĂN phát hành. Vì vậy trong các cuốn từ điển khác hay là trên sách, báo người học sẽ gặp những chữ Kanji khác đọc không đúng với cách này. Nhưng đó chỉ là các chữ Kanji không nằm trong 1945 chữ Kanji thông dụng theo qui định của Nhật, hoặc nó thuộc cách đọc đặc biệt trong tiếng Nhật. Ví dụ, chữ “富:ふ”âm Hán-Việt là “phú” nên đọc theo âm ngắn là đúng với qui tắc. Song có trường hợp khi ghép thành một từ, chữ này lại có cách đọc theo âm dài là “ふう”. Chữ “喪:Tang” trong từ điển có cả cách đọc là “も”nhưng đây không phải là cách đọc theo “Onyomi” mà là cách đọc theo “Kunyomi”.  Hoặc chữ “柔:Nhu”có hai cách đọc là “じゅ”và “にゅう”. Như vậy, nếu đọc theo cách một là đúng với qui tắc suy cách đọc theo âm Hán-Việt. Những điểm nêu trên có lẽ chính là nguyên nhân của những trường hợp không theo qui tắc của âm Hán-Việt.
A. Hàng “か”
ア.「きゅ」và 「ぎゅ」Tất cả các chữ ở hàng này đều là âm dài “Kuu” nên không cần để ý đến âm Hán-Việt.
イ.「きょう」と「ぎょう」Ở hàng này vì không thấy có trường hợp ngoại lệ nên cũng dễ nhớ.
Ví dụ: 居 (Cư) kyo 巨 (Cự) kyo 挙 (Cử) Kyo 御 (Ngự) Gyo
京 (Kinh) Kyoo 興 (Hưng) Kyoo 協 (Hiệp)  kyoo
教 (Giáo) Kyoo     業 (Nghiệp) Gyoo 仰 (Ngưỡng) Goo
ウ.「こ」「こう」と「ご」「ごう」 Trong cách đọc âm ngắn, có lẽ chỉ có chữ 「誇:こ」là trường hợp ngoại lệ vì âm Hán-Việt “Khoa” có hai âm tiết ở đằng sau. Trong cách đọc âm dài không có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ:
口(koo) Công 工(koo) Công 鋼(koo) Cương 効(koo) Hiệu 号(goo) Hiệu 豪(goo) Hào 郷(goo) Hương v.v…
B. Hàng “さ”.
ア.「しゅ」「じゅ」Trong cách đọc âm ngắn có 3 từ không theo qui tắc là 朱(しゅ)Chu, Châu;種(しゅ)Chủng; 酒(しゅ)Tửu
Trong âm dài 「しゅう」「じゅう」cũng có một số từ không theo qui tắc và điều thú vị là những từ này đều có nguyên âm “u” trong âm Hán-việt. Ví dụ: 秀Tú  修: Tu;囚: Tù 秋: Thu 酬: Thù 醜: Xú  住: trú 柔: Nhu.
イ.「しょ」「じょ」と「しょう」「じょう」 Không có trường hợp ngoại lệ nên chỉ cần căn cứ vào âm Hán-Việt.
ウ.「そ」と「そう」Cũng không có trường hợp ngoại lệ, nhớ cách đọc theo âm Hán-Việt.
C. Hàng “た”
ア.「ちゅ」と「ちゅう」Không có cách đọc âm ngắn.
イ.「ちょ」と「ちょう」 Âm ngắn chỉ có 3 từ là 「著」「緒」「貯」còn lại đều đọc theo âm dài.
ウ.“と”と“とう” 
Ở hàng này, các chữ được phát âm ngắn hoặc dài đều theo quy luật âm Hán –Việt, nhưng chỉ có chữ“登”là chữ duy nhất có cả hai cách đọc theo âm ngắn-dài. Tuy nhiên, chỉ có một từ duy nhất có cách đọc theo âm ngắn khi đi với chữ “登” đó là chữ “登山”còn lại đều đọc theo âm dài.
D. Hàng “な”
ア.“にゅ” Hàng này không có từ nào đọc theo âm ngắn.
イ.“にょ” Đọc theo âm ngắn chỉ có hai chữ “如”と“女”
ウ.“の”    Ở hàng này chỉ có duy nhất một chữ “野”.
エ.“のう” Có 6 chữ đọc theo âm dài “脳;能;農;濃;悩;納
E. Hàng “は”
ア.“ひゅ”と“ひゅう”Ở hàng này không có chữ Kanji nào.
イ.“ひょう” Không có chữ nào đọc theo âm ngắn.
ウ. “ふ”と“ふう”Trong các chữ đọc theo âm ngắn, có từ “不”không theo quy tắc âm Hán-Việt. Chữ “富”có hai cách đọc nhưng chỉ khi ghép thành từ “富貴”mới đọc theo âm dài “fuuki”.  Chữ đọc theo âm dài chỉ có 2 chữ là “風”;“封”
エ.“ほ”と“ほう”Có 2 chữ ngoại lệ đọc theo âm ngắn đó là: “帆:phàm”;“保:bảo”.
G. Hàng “ま”
ア.“みゅ”Không có chữ Kanji nào, tất cả đọc theo âm dài.
イ.“みょ”Không có chữ Kanji nào đọc theo âm ngắn.
ウ.“も” Trong cách đọc này, chỉ có 2 từ là “摸”と“茂”
エ.“もう”Không có trường hợp ngoại lệ.
H. Hàng “ら”
ア.“りゅ” Không có chữ Kanji nào, tất cả đều đọc theo âm dài.
イ.“りょ”Chỉ có 4 chữ Kanji đọc theo âm ngắn là:
慮:Lự  侶:Lữ  虜:Lỗ   旅:Lữ
ウ.“ろ” Chỉ có 3 từ đọc theo âm ngắn và đúng với qui tắc
炉:Lô  路:Lộ  露:Lộ
Trên đây là một số phương pháp học chữ Kanji trong tiếng Nhật mà tác giả tự mình tìm ra sau một thời gian dài sử dụng. Hi vọng những đúc kết trên sẽ có ích đối với những người đã, đang và sẽ học tập tiếng Nhật. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên chắc chắn những phương pháp trên sẽ còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, rất mong nhận được đóng góp ý kiến và các phương pháp khác của độc giả để chúng ta cùng nhau hoàn thiện phương pháp học chữ Kanji trong tiếng Nhật.
__ 
Yêu Nhật Bản - Học Tiếng Nhật

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

200 chữ Hán cơ bản N5


200 chữ Hán cơ bản N5
Với 200 chữ Hán cơ bản , bạn có thể tự tin xách ba lô lên và chinh phục trình độ N5 một cách dễ dàng.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015


Cách dùng San, Sama, Kun, Chan trong tiếng Nhật.Nếu sử dụng sai những từ này, bạn sẽ bị coi là bất lịch sự đó, hãy chú ý nhé!
Cách dùng Sama, San, Kun, Chan trong tiếng Nhật
San: Từ này được dùng phổ biến nhất. Nó có thể áp dụng cho cả nam và nữ, trịnh trọng hay xô bồ. San là từ an toàn để sử dụng khi bạn ko biết phải xưng hô với người đối diện như thế nào.
Không được dùng “san” với tên của chính mình. Việc này được coi là cực kỳ bất lịch sự. Nếu bạn làm như vậy ko khác gì bạn bảo người đối diện hãy quỳ xuống và lạy mình.
Bạn còn có thể thêm “san” vào 1 số danh từ, thường thì là nghề nghiệp. Ví dụ cửa hàng copy thì được gọi là CopyYa-san, hiệu sách thì là Honya-san. Vì thế các bạn mới học khi nghe người Nhật nói chuyện nên để ý cái này, dễ nhầm sang thành tên người.
Có 1 điều thú vị là rất nhiều các nickname tiếng Nhật đều kết thúc bằng số 3 (Ví dụ như sasuke3, naruto3…) Có thể giải thích điều này là vì trong tiếng Nhật, số 3 được đọc là “san” . Đây là cách chơi chữ khá thú vị.
Sama: Thường thì bạn sẽ ít khi phải dùng đến từ này, dĩ nhiên trừ khi là bạn đang có ý châm biếm ai đó. Nhưng có 1 số trường hợp bạn có thể sẽ phải dùng đến từ này đó là khi:
1. Bạn đang làm cho công ty và bạn đang nói chuyện với khách hàng ( quý khách : okyakusama)
2. Bạn muốn châm biết ai đó, những người tỏ vẻ rất kiêu hãnh,kênh kiệu.
ĐỪNG  bao giờ ví mình với “sama”…trừ khi bạn đang nói đùa về bản thân. Nếu bạn sử dụng từ này để nói về mình trước một khuôn mặt nghiêm nghị, chắc chắn bạn sẽ nhận được những cái nhìn thương cảm.
Thi thoảng, người ta cũng sử dụng “Chama” thay cho “sama”. Về cơ bản thì bạn nên sử dụng từ này với những người lớn tuổi.
Kun: Đây là cách gọi thân thiện hướng đến nam giới của người có địa vị cao hơn hay nhiều tuổi hơn với đàn em và những người ít tuổi hơn mình. Giáo viên rất hay gọi các học sinh nam của mình theo cách này.
Tuyệt đối ko sử dụng từ này với những người có địa vị cao và lớn tuổi hơn mình. Cũng ko nên sử dụng cách gọi này với tên mình.
Chan: “Chan” được sử dụng chủ yếu với trẻ con, các thành viên nữ trong gia đình, người yêu và bạn thân.
Không được sử dụng cách gọi này với người có địa vì và tuổi tác cao hơn mình. Chắc chắn rằng mình đang sử dụng cách gọi này với người trẻ tuổi hơn mình hoặc là người đó đối với mình rất thân thiết.
Không giống như các cách gọi khác, bạn hoàn toàn có thể dùng từ này với tên mình. Trẻ con và người lớn đều có thể sử dụng cách này.
Một điều thú vị khác là “chan” được sử dụng với “Ojii” và “Obaa” (Oji-chan/oba-chan) có nghĩa là Ông và Bà. Điều này có thể giải thích là vì khi người ta già, họ ko thể tự chăm sóc mình được nữa, họ như trở về trạng thái khi mới sinh, vì thế ta dùng từ “Chan” để thể hiện phần trẻ con trong con người họ.

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015


Những quy tắc học Tiếng Nhật hiệu quả

Quy tắc số 1:

Luôn luôn học và ôn tập nhóm từ, không phải từng từ riêng lẻ
Không bao giờ học một từ riêng lẻ. Khi bạn gặp từ mới, luôn luôn nhớ viết ra nhóm từ sử dụng nó. Và khi ôn lại cũng ôn luôn nhóm từ, không ôn một từ.
Sưu tập nhóm từ: Ngữ pháp và kỹ năng nói sẽ tăng nhanh hơn 6 – 8 lần. Đừng bao giờ học một từ riêng lẻ. Đừng bao giờ viết một từ riêng lẻ vào tập vỡ mà hãy luôn nhớ viết cụm từ.

Quy tắc số 2:

Không học ngữ pháp
Ngay bây giờ đừng học ngữ pháp. Hãy để sách ngữ pháp ra xa. Quy tắc ngữ pháp chỉ dạy bạn nghĩ về tiếng Nhật, bạn muốn nói tiếng Nhật một cách tự nhiên mà không cần suy nghĩ hãy học tiếng Nhật mà không học ngữ pháp, việc nói của bạn cải tiến nhanh chóng, bạn sẽ nói tiếng Nhật tự nhiên. Tôi chắc rằng bạn đã mất quá nhiều thời gian cho việc học ngữ pháp mà không thể nói tiếng Nhật được một cách trôi chảy.

Quy tắc số 3:

Nghe trước
Quy tắc nào quan trọng nhất? Câu trả lời đơn giản, đó là nghe. Bạn phải nghe tiếng Nhật  mỗi ngày. Đừng đọc sách. Nghe tiếng Nhật, là chìa khóa để thành công trong việc học tiếng Nhật. Hãy bắt đầu tập nghe mỗi ngày.
Học bằng tai, không học bằng mắt. Ở trường bạn học tiếng Nhật bằng mắt. Bạn đọc sách, bạn nắm quy tắc ngữ pháp. Với phương pháp Efforless Japanese, bạn học tiếng Nhật bằng tai, không phải bằng mắt. Hãy nghe tiếng Nhật từ 2 – 3 giờ mỗi ngày. Hãy dành thời gian để nghe tiếng Nhật – đó là chìa khóa để nói giỏi.

Quy tắc số 4:

Học chậm, học thật kỹ là tốt nhất
Làm thế nào để nói tiếng Nhật tự động. Đừng học nhiểu từ vựng trong một thời gian ngắn, số lượng không phải là yếu tố quyết định mà chính là chất lượng của bài học đi kèm với thời gian học.  Bí mật nói dễ là học từ và cụm từ thật kỹ. Không chỉ biết định nghĩa, không chỉ nhớ để làm bài thi mà bạn phải ghi vào sâu trong trí nhớ. Để nói tiếng Nhật dễ, bạn phải lặp lại mỗi bài học nhiều lần.
Học kỹ, nói dễ như thế nào? Chỉ cần lặp lại tất cả những bài học hoặc nghe nhiều lần. Chẳng hạn, nếu bạn có sách nói, hãy nghe chương đầu tiên 20 lần trước khi nghe đến chương thứ hai. Bạn có thể nghe chương đầu tiên 3 lần mỗi ngày trong 10 ngày.

Quy tắc thứ 5 :

Sử dụng những câu chuyện ngắn
Đây là một cách hiệu quả để học và sử dụng tiếng Nhật một cách tự động. Hãy sử dụng những câu chuyện ngắn, bạn phải học ngữ pháp bằng cách nghe tiếng Nhật thực tế. Cách tốt nhất là nghe cùng một câu chuyện nhưng ở các thì khác nhau: quá khứ, hoàn thành, hiện tại, tương lai.

Quy tắc thứ 6:

Chỉ sử dụng bài học và tài liệu thực tế
Bạn học tiếng Nhật thực tế nếu bạn muốn nói tốt và hiểu được người nói tiếng Nhật bản ngữ. Hãy sử dụng các tạp chí thực tế, chủ đề có âm thanh, chương trình TV, phim, bài nói chuyện trên radio và sách nói. Học tiếng Nhật thực tế, không học tiếng Nhật qua sách.

Quy tắc thứ 7:

Nghe và trả lời thay vì nghe và lặp lại
Trong các câu chuyện ngắn, người nói hỏi nhiều câu đơn giản. Mỗi lần bạn nghe một câu hỏi, hãy tạm ngưng và trả lời nó. Hãy tập trả lời câu hỏi thật nhanh mà không cần suy nghĩ. Chính cách học phản xạ đơn giản này đã hình thành tương tác ngôn ngữ mới cho người học và mang lại một kết quả không thể ngờ. Quy tắc này cũng được áp dụng triệt để trong phương pháp nói tiếng anh kinh điển Crazy English.
Với 7 quy tắc học nói tiếng Nhật trên, tôi hi vọng có thể phần nào giúp bạn đọc có thể hình dung ra một phương pháp học mới, khác hoàn toàn với những phương pháp truyền thống nhưng đạt hiệu quả cao. Đây là cách học duy nhất, tốt nhất cho bạn – nếu bạn muốn chinh phục một ngôn ngữ mới thì hãy nhớ 7 quy tắc trên.